Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

Đô𝐢 𝐥ờ𝐢 𝐯ề 𝐛à𝐢 𝐯𝐢ế𝐭 "𝐂𝐡ừ𝐧𝐠 𝐦ự𝐜" 𝐜ủ𝐚 𝐆𝐒. 𝐂𝐚𝐨 𝐇𝐮𝐲 𝐓𝐡𝐮ầ𝐧


Có thể cho rằng bài viết không xứng với tầm hiểu biết của tác giả có uy tín đối với độc giả người Việt như GS Cao Huy Thuần. Đánh giá chung thì có lẽ nó quá nhiều “sạn” để đưa ra bàn luận tại một hội thảo, và nếu hội thảo này là hội thảo của những người chuyên nghiệp có chất lượng thì bài viết là không đảm bảo tiêu chuẩn.

Dẫu biết mọi vấn đề của xã hội loài người vốn dĩ phức tạp nó chẳng bao giờ đơn giản như những bài thi trắc nghiệm. Vì vậy mà ngay cả những học giả hàng đầu tại những quốc gia văn minh tiên tiến hàng đầu của thế giới cũng vẫn cãi nhau chí chóe về những vấn đề mà trong nghiên cứu tưởng chừng như rất nhỏ nhặt và rất đơn giản, bởi đặc trưng của nghiên cứu là buộc phải chia vấn đề lớn ra thành nhiều góc độ rất nhỏ để đơn giản hóa và cũng giúp hiểu sâu từng góc độ đó. Tuy với tiêu đề là “Chừng mực” nhưng thực ra mục đích chính vẫn là phương cách để xây dựng một quốc gia phát triển thịnh vượng. Đây là một chủ đề quá lớn để có thể đưa vào mấy trang giấy. Vì vậy tác giả có nêu một số nhược điểm, cái không hoàn hảo về quan điểm của người này người nọ, đặc biệt là hai triết gia lớn như Aristotle và Montesquieu thì cũng là điều rất bình thường. Và chính những việc làm đó lại càng làm cho giá trị của những danh nhân đó ngày càng lớn hơn và sống mãi, trong khi những vị học giả khác, những triết gia thời hiện đại thì họ sớm chìm vào quên lãng và chẳng có mấy ai tìm đến những giá trị tinh thần của họ.
Ảnh: Sưu tầm từ internet
Với chủ đề về phát triển thịnh vượng một quốc gia thì công trình giá trị thời hiện đại không thể không nói đến tác phẩm “Tại sao các quốc gia thất bại” của đồng tác giả Daron Acemoglu và James A. Robinson. Ở đó tác giả cũng giải thích rằng đất nước muốn phát triển thịnh vượng là phải có thể chế (cơ chế) tốt. Thể chế gồm có thể chế cứng là hệ thống luật pháp, và thể chế mềm là các quan niệm về văn hóa, truyền thống, nếp sống, quy tắc ứng xử bất thành văn của xã hội. Tuy nhiên, cái quyết định chính là thể chế luật pháp, qua thời gian sẽ hình thành cái thể chế mềm, là điều mà GS Cao Huy Thuần đề cao – yếu tố văn hóa. Vì thế, văn hóa không phải là yếu tố đi trước như GS. Thuần đã nói được.

Tác giả đã quá “tham” khi ôm quá nhiều vấn đề vào một bài viết ngắn. Tác giả cũng đã “tham lam” khi dẫn dắt đủ các vấn đề từ Đông, Tây kim cổ, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hóa… vào bài viết có mấy trang giấy thì làm sao đảm bảo được chất lượng. Với chủ đề quá lớn như vậy lại chọn định hướng [văn hóa] không chính xác thì chắc chắn bài viết sẽ có quá nhiều sơ hở.
Bây giờ chúng ta cùng nhìn về một số quan điểm chưa hợp lý mà bài của GS. Cao Huy Thuần đã nói.

Trước hết nói về chủ đề chính của tác giả. “Chừng mực”.

Tác giả đã trích dẫn câu nói của Montesquieu rằng “Bất cứ người nào có quyền lực đều có khuynh hướng lạm dụng quyền lực”. “Mỗi con người, khi dính dáng đến quyền lợi của chính mình, đều không thể nào phán xét cho công minh được”, đó cũng chính là câu nói của Aristotle. Điều đó nghĩa là tác giả đã biết rằng đặc trưng của quyền lực là nó có tính tự mở rộng, tự tăng cường, kẻ nào nắm quyền lực sẽ muốn có nhiều quyền lực hơn, đó cũng chính là đặc tính tham lam, vì mình của mọi con người [bình thường]. Đặc biệt là những chế độ độc tài, thì thâu tóm quyền lực và sử dụng nó để cai trị, trấn áp dân chúng là một phương cách duy nhất để duy trì tồn tại của những kẻ độc tài, bạo chúa. Nói kẻ độc tài cư xử chừng mực chẳng khác nào nói tên kẻ cắp hãy ngừng tay để sống lương thiện. Có vẻ tác giả như đang rao giảng tôn giáo (kiểu dân túy) thì đúng hơn. Nghĩa là không thể chỉ đi khuyên người khác cư xử chừng mực được.
Đoạn cuối tác giả nói “Dân vừa phải với quyền lực và quyền lực vừa phải với dân” thực ra cũng là một điều không phù hợp. Coi quyền lực là chủ thể đối đầu với dân trong khi thực tế quyền lực chỉ là công cụ để kẻ nắm quyền lực cai trị kẻ không có hoặc có ít quyền lực hơn. Trong những nền dân chủ văn minh thì quyền lực cũng thuộc về dân, bởi họ chính là người chấp nhận từ bỏ một phần tự do, một phần quyền lực của mình để tạo ra bộ máy nhà nước nhằm bảo vệ cho những phần tự do và phần quyền lực còn lại của họ.

Tác giả nói “Aristotle cho rằng mục tiêu của quyền lực là lợi ích chung…” là chưa chính xác. Mục đích của quyền lực là mục đích của kẻ nắm giữ quyền lực, bởi quyền lực là công cụ có trong tay của kẻ nắm quyền, và mục đích của kẻ đó là vì lợi ích của mình. Aristotle nói rằng bản chất cuộc đời con người là vì mình nghĩa là muốn mang lại hạnh phúc cho mình. Một quốc gia tốt đẹp là quốc gia mang lại nhiều hạnh phúc cho người dân của quốc gia đó nhất. Vì thế, người dân tuy vì mình nhưng để có và giữ được hạnh phúc cho mình thì buộc phải chấp nhận từ bỏ một phần, trao quyền cho nhà nước để bảo vệ và duy trì niềm hạnh phúc của mình. Vì đã trao quyền để tạo ra bộ máy nhà nước thì phải cấu trúc bộ máy để tránh nó lạm quyền và gây tổn hại đến người dân.

Tác giả nói tiêu chuẩn “cách tổ chức quyền lực (ai cầm quyền) thì nhường thế hệ sau bàn bạc; còn thế hệ chúng tôi, cuối đời rồi, chỉ còn nuôi dưỡng mong ước được thấy tiêu chuẩn thứ hai – “cách hành xử quyền lực (đúng đắn hay tư tưởng, tốt hay xấu) – hừng lên rạng đông ở chân trời. Đây là một quan điểm cũng không hợp lý, trải qua đã rất nhiều năm kinh nghiệm, tác giả vẫn cứ mong mãi cái tiêu chuẩn thứ hai nhưng nó đâu có thấy, vậy mà đến khi cuối đời lại mong nó hừng lên rạng đông làm sao được. Bởi không có cái thứ nhất được thiết lập thì làm sao có cái thứ hai, nên mong cái thứ hai hừng sáng có thể coi là chuyện trái quy luật.

Khi tác giả bàn về một số ví dụ cụ thể của một số quốc gia cũng áp dụng mô hình dân chủ, tam quyền phân lập (mà tác giả ví như con ngoáo ộp) thì có lẽ bị ảnh hưởng khá nhiều định kiến, khiến cho quan điểm mất đi tính khách quan, thậm chí quên đi bản chất, không đúng thực tế. “Dân chủ” và “Tam quyền phân lập” nó chỉ là những thuật ngữ. Nên không thể đặt tên nước tôi là dân chủ, quy định hiến pháp tôi có hình ảnh ba bộ máy là tôi có ngay nhà nước dân chủ đúng nghĩa, tam quyền phân lập chuẩn mực. Mang hiến pháp của quốc gia phát triển, văn minh, thịnh vượng về áp dụng y nguyên tại quốc gia mình là một cách làm máy móc, cách nghiên cứu nửa vời, chưa hiểu thấu được tinh thần của sản phẩm tinh thần – bản hiến pháp, nên khi áp dụng sẽ là kết quả chẳng tới đâu, điều mà tác giả gọi là “dân chủ giả cầy”. Hiến pháp đã ban hành là một văn bản “chết” được viết ra trên giấy, nhưng tinh thần của bản hiến pháp thì vẫn chảy cuồn cuộn trong lòng nó. Vì thế, hiểu được tinh thần của bản hiến pháp tốt mới là điều quan trọng. Từ đó mới có thể xây dựng, cấu trúc bộ máy, ban hành vô số những quy tắc (văn bản luật, dưới luật…) phù hợp với tinh thần của hiến pháp.
Hình: sưu tầm từ internet
Tác giả đã không hiểu rõ được nguyên tắc trung dung dù tác giả đã trích dẫn thuật ngữ này từ Aristotle. Mọi quốc gia đều có ba thành phần giàu, nghèo và trung lưu với số lượng khác nhau. Ba thành phần này có cách suy nghĩ, hành xử khác nhau. Và để thiết lập chính quyền trung dung thì Aristotle nói gồm những ý rằng: Phải tuỳ theo từng trường hợp, tùy trạng thái của mỗi quốc gia, tùy mức tài sản (giàu nghèo) của người dân để mà ấn định không cao cũng không thấp quá để giữ được nguyên tắc là số người được hưởng quyền chính trị phải đông hơn số người bị loại ra. Những người nghèo, dù không được tham gia chính sự, cũng sẽ không bất mãn, miễn hồ họ không bị đàn áp và tài sản không bị tước đoạt. Luật pháp tuyệt hảo là phải phù hợp với từng quốc gia. Ngay cả những luật lệ đã viết xuống thành văn, cũng không có nghĩa là chúng không thể thay đổi được. Chính trị, cũng như khoa học, chẳng ai có thể viết xuống chính xác mọi điều. Vì vậy luật pháp thành văn vẫn có khi phải thay đổi, nhưng việc thay đổi liên tục lại gây tác hại rất lớn như tốn kém chi phí, tạo tâm lý bất tuân luật pháp cho người dân. Vì vậy, khi thay đổi luật phải thận trọng. Chính vì vậy việc ban hành luật lại phải cẩn trọng và chính xác [đòi hỏi người làm luật phải có chuyên môn giỏi và có cái nhìn từ mọi góc cạnh của đời sống xã hội hiện thời]. Vì thế khi hoàn cảnh xã hội thay đổi như thu nhập người dân thay đổi, dân số thay đổi, thành phần thay đổi, trạng thái một quốc gia thay đổi, nhất là trong bối cảnh có những mối quan hệ ràng buộc với các quốc gia khác, thì dù hiến pháp chưa thay đổi, nhưng tinh thần của bản hiến pháp tốt phải được phát huy để thay đổi các hệ thống luật, dưới luật, tạo ra cách ứng xử của người nắm quyền và của người dân cũng sẽ thay đổi theo. Điều này cũng dẫn đến kết quả như tác giả thấy là cùng một bản hiến pháp, cùng một kiểu “tam quyền phân lập” như nhau, mà sao cách hành xử khác nhau đến vậy.

Tác giả cũng chưa chính xác khi nói rằng Pháp cũng “tam quyền phân lập” trong khi thực tế Pháp là “Tứ quyền phân lập”. Tuy nhiên, tính phân lập, độc lập, giữa các cơ quan được quy định trong hiến pháp của Pháp thì không rõ ràng và chặt chẽ như của hiến pháp Hoa Kỳ.

Việc thiết lập các cơ quan chính trong bộ máy nhà nước không nhất thiết phải là tam quyền, mà có thể tứ quyền, ngũ quyền… Tuy nhiên, nó phải đảm bảo tính phân lập, độc lập, cân bằng, đối trọng, kiểm soát, ràng buộc lẫn nhau. Tất nhiên, tác giả không nên ép quá chặt vào thuật ngữ để hiểu “tam quyền phân lập” phải đúng nghĩa hoàn hảo. Xã hội loài người vốn dĩ là thế, không thể có gì hoàn hảo, hoàn toàn phân biệt trắng đen cả. Nhưng cũng không phải ngẫu nhiên mà bản hiến pháp Hoa Kỳ lại duy trì được và là bản hiến pháp lâu đời nhất còn tồn tại ở thời điểm hiện nay. Nên tác giả lại quá lo xa cho đất nước Mỹ khi đang được dẫn dắt bởi vị Tổng thống khác thường, người bị giới truyền thông (thiên tả, giới mà Trump gọi là fake news) gán cho đủ thứ tệ hại trên đời. Không phải ngẫu nhiên lại có thuật ngữ “kiềng ba chân” hay “thế chân vạc”, bởi cả từ vật lý tự nhiên, lẫn cấu trúc quyền lực con người thì cấu trúc ba bộ phận cân bằng sẽ tạo ra cơ chế rất vững chắc, các cơ quan tự kiểm soát lẫn nhau mà không cơ quan nào có thể lạm quyền, hay cũng không dễ dàng để một cơ quan liên kết với cơ quan thứ hai và triệt hạ cơ quan còn lại. Chính điều này cũng làm cho con người buộc phải hành xử chừng mực như tác giả mong muốn.

Kết luận lại, dù tác giả hay nhiều học giả khác có nói rằng những cách thức tổ chức chính quyền mà những vĩ nhân như Aristotle hay Montesquieu đã suy tưởng, chứng minh rồi để lại cho nhân loại là thiếu sót là “không tưởng”, thì điều đó cũng không làm mất đi giá trị của những đứa con tinh thần bất diệt của họ ít nhất cho đến thời điểm hiện nay và còn rất dài trong tương lai nhân loại.

P/s: Chi tiết bài viết của GS Cao Huy Thuần xin trích về tại đây
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN

Số 38
tháng 8, 2019
CHỪNG MỰC
(Tham luận tại Hội Thảo Hè, Porto,18/19-7-2019)
Cao Huy Thuần
Các anh chị thân mến, trong 21 năm làm Hội Thảo Hè, chúng ta không ngớt bàn về dân chủ, mỗi năm một ý, mỗi người một vẻ, đua nở trăm hoa. Riêng tôi, chưa bao giờ tôi động đến cái chữ "tam quyền phân lập", chẳng phải vì nó là ta-bu, mà vì tôi nghĩ là hãy còn quá sớm để đi vào chi tiết cụ thể khi điều kiện chưa hội đủ, đầu óc chưa sẵn sàng để bước... ngay cả cái bước đầu tiên. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn tự hạn chế chữ nghĩa vào mỗi cái bước đầu tiên ấy thôi, có lúc tưởng nó nhúc nhích được - dưới thời ông Võ Văn Kiệt - nhưng rồi đâu lại vào đấy, hai chân lễ phép nhường nhau. Năm nay, Hội Thảo nêu lên trọng tâm văn hóa, tôi nghĩ đây là dịp để tôi bộc bạch thêm về cái bước đầu tiên này, bởi vì, đúng vậy, bước ấy chính là bước đi văn hóa. Vả chăng, văn hóa là cái nghề của chúng ta, tán gẫu về văn hóa biết đâu dễ nghe hơn là phô diễn ngôn từ chính trị thời thượng. Vậy thì thế nào là "bước đi văn hóa" mà tôi nghĩ là phải đi trước cả những nguyên tắc nền móng đã dựng xây dân chủ, cả cái nguyên tắc nằm ở đầu môi chót lưỡi mà những người đi trước ta đã gọi là "tam quyền phân lập"? Tôi sẽ đặt cái danh từ ấy nằm trong ngoặc kép, bởi vì làm gì mà có "tam quyền"? Cái danh từ ấy là con ngoáo ộp không đáng sợ, vì nó không có!
Tôi sẽ đi từ nguồn gốc xa xôi của nguyên tắc ấy, từ ông tổ thứ nhất là Aristote, rồi mới nói dài hơn về ông tổ thứ hai đã khai sinh ra nó là Montesquieu. Tôi sẽ cắt nghĩa rằng: cái gì quan trọng trong bất cứ chính thể nào, dù dân chủ hay không, không hẳn là những nguyên tắc thành văn mà chính là những nguyên tắc bất thành văn, nghĩa là những yếu tố văn hóa. Hơn cả lý thuyết, học thuyết, chương trình, cương lĩnh giấy trắng mực đen, một thái độ, một đầu óc, một lối sống trong xã hội, một cách đối xử giữa người với người, những yếu tố văn hóa đã un đúc sẵn từ trước ấy, bàng bạc trong không gian chính trị, ảnh hưởng lên cách hành xử quyền lực khiến cùng một chế độ chính trị như nhau trên nguyên tắc, mà nơi này kết quả tốt xấu khác nơi kia, cùng khuôn mà khác dấu.
Ông tổ thứ nhất, Aristote, phân biệt ba chế độ chính trị mà ông suy ra từ các chính thể của các tiểu quốc trong Hy Lạp cổ: chế độ quân chủ, trong đó một người nắm hết quyền hành; chế độ quý tộc, trong đó một thiểu số nắm quyền; chế độ mà ông gọi là "cộng hòa", trong đó số đông nắm quyền. Nhưng trước khi phân biệt như vậy, Aristote nhấn mạnh một điểm cốt tử, trọng tâm trong phân tích chính trị của ông: đâu là mục tiêu của quyền lực? Ông trả lời: mục đích của quyền lực là ích lợi chung. Chế độ chính trị nào nhắm đến việc thực hiện ích lợi chung thì đều là chế độ đúng đắn; chế độ chính trị nào chỉ nhắm đến ích lợi riêng của người cầm quyền thì đều là chế độ hư hỏng, thối nát. Tại sao? Tại vì, ông viết, "Nhà nước không có gì khác hơn là một đoàn thể gồm những con người tự do".
Nhấn mạnh mục đích của quyền lực như vậy rồi, Aristote mới phân biệt ba chế độ chính trị mà ông thấy, nhưng lập tức cả ba đều lại phân ra làm hai tùy theo mục đích nhắm đến. Chế độ quân chủ mà chỉ nhắm đến ích lợi riêng của ông vua thôi thì trở thành chế độ bạo quyền (tyrannie); chế độ quý tộc mà chỉ nhắm đến ích lợi riêng của nhà giàu thôi thì trở thành chế độ thiểu số cai trị (oligarchie); chế độ cộng hòa mà chỉ nhắm đến ích lợi riêng của đông đảo nhà nghèo thôi thì trở thành chế độ mà ông gọi là dân chủ.
Như vậy, có 6 chế độ trong phân tích của Aristote, mỗi 3 chế độ được phân làm hai tùy theo tốt hay xấu, lành mạnh hay hư hỏng. Không phải con số là quan trọng, không phải một người, thiểu số, hay đa số cầm quyền là quan trọng: quan trọng là cách hành xử quyền lực, đúng hướng hay chệch hướng với mục tiêu ích lợi chung.
Nhận lãnh gia tài của Aristote, Montesquieu làm phong phú thêm, mở rộng ra, cải cách để đáp ứng với hoàn cảnh mới của thế kỷ 18. Vừa dựa trên tiêu chuẩn "Ai cầm quyền", vừa khám phá ra bản chất của mỗi chế độ, ông phân biệt 3 chế độ: cộng hòa, quân chủ, độc đoán. Trong chế độ cộng hòa, ta thấy lại sự phân biệt của Aristote giữa chế độ quý tộc (thiểu số cai trị) và chế độ dân chủ (tất cả cai trị). Cũng giống như Aristote, ông tách chế độ quân chủ ra làm hai, nhưng không phải dựa trên tiêu chuẩn ích lợi chung như Aristote, mà dựa trên một tiêu chuẩn khác: luật. Ông vua cai trị bằng luật, thì đó là chế độ quân chủ; ông vua cai trị bất cần luật mà chỉ bằng tùy tiện thất thường mưa nắng của ông thì đó là chế độ độc đoán (despotisme). Ta thấy lại điều mà tôi muốn nhấn mạnh: trong cả hai ông tổ của việc phân tích chế độ chính trị, ông nào cũng phân biệt hai tiêu chuẩn: cách tổ chức quyền lực (ai cầm quyền) và cách hành xử quyền lực (đúng đắn hay hư hỏng, tốt hay xấu). Xin nhường cho thế hệ sau tiếp tục hội thảo với tiêu chuẩn thứ nhất, thế hệ chúng tôi, cuối đời rồi, chỉ còn nuôi dưỡng cái mong ước được thấy tiêu chuẩn thứ hai hừng lên rạng đông ở chân trời.
Tôi vừa nói: Montesquieu đề ra bản chất của mỗi chế độ. Bản chất, ông định nghĩa, là "cái làm cho chế độ ấy là chế độ ấy", là "cái tạo thành cấu trúc đặc thù của nó". Vì vậy mà bản chất của chế độ quân chủ và chế độ độc đoán là khác hẳn nhau. Và bởi vì thời đại của ông là thời đại quân chủ, ông chia hẳn quân chủ ra làm hai để thấy đâu là quân chủ, đâu là độc đoán. Để rõ hơn nữa, ông phân biệt bản chất và nguyên tắc: bản chất của một chế độ là cái làm nó là nó; nguyên tắc là cái làm nó hành động. Mỗi chế độ hàm chứa một nguyên tắc, nghĩa là cái tình cảm nung nấu sẵn trong mỗi thành viên của xã hội chính trị khiến cho mỗi chế độ hoạt động phù hợp với bản chất của nó. Trong chế độ cộng hòa dân chủ, nguyên tắc là đức hạnh, có thể hiểu là đức hạnh chính trị, lòng yêu đoàn thể, tính trọng luật của mỗi công dân. Ví dụ thêm để dễ hiểu hơn, "tiền đâu là đầu tiên" thì chắc chắn không phải là đức hạnh rồi. Trong chế độ quân chủ, nguyên tắc là danh dự, trọng danh dự nhiều khi hơn cả trọng tính mạng. Trong chế độ độc đoán, nguyên tắc là ... sợ, cái sợ thường xuyên nó làm mình thành ra nô lệ.
Cái sợ ấy là căn bản trong phân tích của Montesquieu. Bởi vậy ông mới tách chế độ quân chủ ra thành hai rành rọt, trong khi ông không chia chế độ cộng hòa ra làm hai như Aristote. Với Aristote, có 6 chế độ trong thực tế. Với Montesquieu, chỉ có ba. Đây cũng lại là điểm mấu chốt để hiểu Montesquieu. Ông cũng phân biệt chế độ tốt và chế độ xấu, nhưng cái chế độ xấu nhất phải tách ra để xem như một chế độ riêng biệt là chế độ độc đoán. Tại sao? Tại vì đó là chế độ không biết chừng mực. Chừng mực (modération): đó là tiêu chuẩn để phân biệt tốt xấu. Chỉ cần chừng mực, chế độ cộng hòa và chế độ quân chủ không phải là xấu. Nhưng đã là độc đoán thì nhất quyết là xấu, tuyệt đối là xấu, xấu từ trong bản chất vì bất chấp chừng mực. Bất chấp chừng mực thì không có, và không thể có tự do. "Tự do chính trị chỉ có trong các chế độ chừng mực", quả quyết không gì đanh thép hơn của Montesquieu, vì đó là căn bản trong phân tích của ông. Cho nên, tận căn bản, quyền lực đừng lạm dụng quyền lực thì tự do mới được đảm bảo. Tôi nhấn mạnh lần nữa, chắc không thừa: trong Aristote cũng như trong Montesquieu, điều quan trọng nhất là cách hành xử quyền lực. Với Aristote, hành xử quyền lực đúng đắn là nhắm đến ích lợi chung, thực hiện hạnh phúc cho dân chúng; với Montesquieu, hành xử quyền lực tốt là giữ quyền lực ở mức vừa phải, chừng mực. Aristote nhắm đến đức hạnh; Montesquieu nhắm đến tự do.
Từ đó mà nảy sinh ra cái nguyên tắc bỗng nhiên trở thành ta-bu. Nước Việt Nam của chúng ta đã hồ hởi rước nó vào Hiến Pháp đầu tiên ngay từ khi độc lập rồi mà! "Tam quyền phân lập" chỉ là một danh từ, gọi nó là tên gì khác cũng được, giống như gọi "hoa hồng" là "hoa hường", thì mùi thơm cũng vậy thôi. Mùi thơm mới là thực chất; thực chất của cái danh từ tam quyền tứ quyền gì đó chẳng có gì khác hơn là cách hành xử quyền lực thế nào để cho quyền lực đừng trở thành quá lố đến mức độc đoán, bạo quyền. Đố ai cãi lại được Montesquieu khi ông viết: "Bất cứ người nào có quyền lực đều có khuynh hướng lạm dụng quyền lực". Vậy thì, "để tránh lạm dụng quyền lực, quyền lực phải ngăn chận quyền lực". Tự mình không ngăn chận mình được, chắc chắn như vậy và ai cũng vậy cả, thì phải nhờ ai đó ngăn chận giúp mình. Chỉ có thế thôi! "Ai đó" là ai, thiếu gì cách để suy nghĩ. Miễn là thành tâm tìm cách chừng mực hóa quyền lực. Ai cầm quyền cũng được, miễn là cầm quyền cho có chừng mực, thế là tốt. Thế là tự do được đảm bảo. Chừng mực là tiêu chuẩn; phân quyền là phương tiện. Là phương tiện thì chẳng có gì là cứng nhắc, rập mẫu một khuôn. Có thể tưởng tượng ra trăm thứ "tam quyền phân lập" chứ không phải một. Thậm chí ông Michel Debré, thủ tướng đầu tiên của De Gaulle, một trong những người làm ra Hiến Pháp 1958 của Pháp, đã viết trước đó đến mức này: "Không có phân quyền, bởi vì trách nhiệm tổ chức đời sống xã hội là bất khả phân chia. Những Hiến pháp chia quyền hành ra thành từng khúc sẽ đưa xã hội đến tình trạng vô tổ chức"(1). Nói đến thế để đừng xem cái tam quyền tứ quyền ấy là con ngoáo ộp. Nó chỉ là hình thức và có nhiều hình thức khác nhau. Vấn đề là: ta xem công dân như là những người tự do hay những tên nô lệ. Nếu là tự do thì phải tránh lạm quyền.
Montesquieu chỉ nói thế, và ta hãy hiểu vấn đề cho đúng. Ông phân biệt ba quyền - ba chức năng - nhưng đó không phải là điểm khởi đầu trong suy luận của ông. Ông không bắt đầu bằng chức năng (lập pháp, hành pháp, tư pháp) rồi từ đó phân ra thành ba quyền. Ông bắt đầu bằng việc suy nghĩ làm thế nào để bảo đảm an ninh cho công dân và ông thấy an ninh đó được bảo đảm nếu quyền lực được thăng bằng: từ đó mà ông tưởng tượng ra giả thuyết phân biệt giữa các chức năng. Vậy thì, bây giờ, theo gót Montesquieu, ta cũng có thể tưởng tượng: nếu ta có cách gì làm thăng bằng quyền lực mà không cần phải chặt quyền lực ra thành ba khúc, mỗi khúc hành xử một quyền, thì ai mà chẳng vỗ tay hoan nghênh!
Mà chặt khúc làm sao được! Chặt khúc là chẳng hiểu quyền lực là cái gì. Quyền lực trong nước là chỉ có một thôi! Đó là gì? Là cai trị. Mà cai trị bằng cái gì trong một nước không phải là độc đoán? Bằng luật. Do đó, làm luật là cái chức năng quan trọng nhất. Nhưng đâu có phải chặt khúc cái lập pháp ấy ra rồi giao nguyên xi cho một cơ quan gọi là Quốc hội! Ấy là cái hiểu lầm tai hại nhất sinh ra con ngoáo ộp. Ai mà chẳng biết rằng ngày nay, cơ quan chính yếu đề nghị ra luật là cơ quan mà ta quen gọi là "hành pháp" để chỉ Chính phủ. Chính phủ đâu có phải chỉ làm cái chức năng "hành" luật. Chính phủ còn tham gia vào việc "lập", mà lại tham gia tích cực hơn cả Quốc hội. Hai cơ quan, nhưng chỉ một chức năng. Chức năng ấy, đâu có chặt nó ra được. Nhưng hai cơ quan cùng tham gia vào một việc thì cơ quan này thăng bằng hóa cơ quan kia, tránh độc đoán, giữ chừng mực.
Bởi vậy, không thiếu gì nhà luật học danh tiếng ở Pháp, quê hương của Montesquieu, gọi "tam quyền phân lập" là huyền thoại. Tôi chỉ trích một tên tuổi thôi ở thế hệ hàng thầy của chúng tôi, Georges Vedel, trích câu này thôi, viết cách đây đã hai mươi năm: "Hãy coi chừng những quan điểm đẹp đẽ về sự phân quyền, chấp nhận mà không xét trước. Montesquieu có con mắt thực tế và biết quan sát sắc bén về đời sống chính trị cụ thể, chắc ông sẽ trở mình dưới mộ nếu ông biết những tín điều mà những người tự xưng là đồ đệ gọi là do ông làm ra. Sự phân quyền, hiểu theo nghĩa đen, là không có. Cách đây hơn bốn chục năm, giáo sư Woodrow Wilson (sau này là tổng thống) đã miêu tả rõ cái quá trình không ngừng gồm những mặc cả, , những dung hòa, những thương thuyết ngoài hành lang mà tổng thống Mỹ phải làm để đối phó với Quốc hội"(2).
Hai cơ quan, một chức năng: làm luật. Tùy theo sáng kiến của mỗi nhà lập hiến, sự hợp tác giữa hai cơ quan diễn ra trên thực tế thế nào thì cái mà ta gọi là "phân quyền" sẽ cứng nhắc hay mềm dẻo thế ấy tùy trường hợp, không có tín điều.
Đúng như ông Debré nói, tuy nói hơi quá lời, những hiến pháp tổ chức phân quyền chặt chẽ đều không thể áp dụng được. Hiến pháp đầu tiên 1791 của Cách Mạng Pháp mực chưa ráo đã bị hủy bỏ. Hiến pháp của nước Mỹ, bền bỉ dẻo dai cho đến bây giờ, nhưng thực tế hành xử quyền lực đưa đến một chế độ không mấy phù hợp với ý định ban đầu. Hoặc các nhà làm hiến pháp phải tìm cách thông thái nhất để làm giảm bớt tính chặt chẽ của nguyên tắc phân quyền, hoặc họ định nghĩa lại sâu sắc hơn khái niệm chức năng, hoặc họ làm nhẹ bớt khái niệm quyền lực, tất cả không ngoài mục đích chứng minh rằng sự phân biệt giữa các chức năng không làm cản trở gì sự hợp tác giữa các cơ quan. Nghĩa là, nguyên tắc phân quyền vẫn có thể điều tiết để thích hợp với nhu cầu của thời đại hiện nay là phải có một chính quyền mạnh và hữu hiệu.
Đúng, ở thời đại của Montesquieu, một "chính quyền mạnh" là đáng sợ, bởi vì quyền lực là đáng sợ, và cái đích mà ông nhắm là quyền này ngăn chận quyền kia. Đúng, dưới ảnh hưởng của ông, của Locke, của Blackstone, các nhà lập hiến ở Mỹ đã nghĩ ra cái biện pháp checks and balances " để các cơ quan (tổng thống, Quốc hội) hãm phanh lẫn nhau. Nhưng thời đại ấy đã qua rồi, nghi kỵ quyền lực không phải là không còn chính đáng, nhưng nghi kỵ đến cái mức bóp chặt không cho chính quyền hành động nữa, vây Nhà nước vào trong một vòng vây càng chật càng tốt, để mọi sáng kiến dành cho cá nhân và xã hội, cái thời đại ấy đã thuộc về quá khứ rồi. Cái còn lại, và còn lại muôn đời, là tự do hay nô lệ của công dân.
Chính vì cái ấy mà Montesquieu tán dương chế độ chính trị ở Anh. Việc làm ra luật, từ khi đề nghị đến khi ban hành, là do cả ba cơ quan cùng tham gia: Vua, Viện quý tộc, Viện dân biểu. Không phải chỉ ba cơ quan thăng bằng nhau, mà cả ba thế lực chính trị lúc ấy cũng thăng bằng nhau, tránh được lạm dụng quyền lực, tiêu chuẩn để phân biệt tốt xấu. Đó là cai trị mà biết tuân giữ chừng mực, triết lý mà truyền thống sống của ta gọi là trung dung. Tác giả mác xít danh tiếng Althusser cười mỉa Montesquieu, cho rằng ông đồng tình chia Quốc hội ra thành hai cơ quan như thế là để bảo vệ thành phần giai cấp của chính ông, giai cấp quý tộc. Cũng đúng thôi: thế lực quý tộc đang xuống, thế lực tư sản đang lên, thăng bằng hai thế lực cũng chính là để ngăn chận quyền lực, thể hiện tự do.
Sau này, thiếu gì hiến pháp cũng tưởng tượng ra một "Viện quý tộc" như vậy - một Thượng Viện - để thực hiện sự chuyển mình từ một chế độ thiếu tự do đến một chế độ tự do hơn cho người dân. Trong những tưởng tượng như vậy, Hạ Viện là do dân bầu, Thượng Viện duy trì một số quyền lợi, một số ảnh hưởng của thế lực đã biết đến lúc mình không còn, mà cũng không nên, nắm giữ tất cả quyền lực trong tay nữa. Cái biết đó mới là khó, làm ra hiến pháp để thể hiện cái biết ấy chẳng có gì khó. Thậm chí ở Anh, cũng chả cần phải viết ra hiến pháp nữa, cứ lấy tập tục bất thành văn mà ứng xử. Cách hành xử quyền lực quyết định tất cả.
Bây giờ đây, ai cũng thấy, cũng lo lắng trước hiện tượng biến thể của chế độ dân chủ trong các nước dân chủ Tây phương. Cũng "tam quyền phân lập" cả trên giấy tờ, nhưng Viktor Orban ở Hung đang gây ra một dây chuyền biến thể độc tài trên thực tế trong các nước Đông Âu. Còn ôi thôi, tại quốc gia đầu tiên xây dựng được một hiến pháp dân chủ, nước Mỹ, một ông tổng thống đang bị tố cáo là làm hủ hóa ngay cả lý tưởng dân chủ. Cái gì làm một chế độ dân chủ thực hiện được dân chủ? Yếu tố văn hóa là quan trọng hàng đầu. Mà hai đặc điểm căn bản trong đó là khoan dung và chừng mực. Tôi mượn lời của hai tác giả Mỹ vừa xuất bản sách ở Mỹ: "Tất cả mọi hệ thống chính trị đều dựa trên những nguyên tắc bất thành văn. Trong chế độ dân chủ, hai yếu tố ấy là quan trọng hơn cả. Khoan dung bao hàm ý nghĩa rằng ta phải tôn trọng đối thủ của mình, không xem đối thủ là kẻ thù. Nếu đối thủ được bầu, ta không được phản đối tính chính đáng của người ấy. Và sự chừng mực thì quá trọng yếu trong chính thể tổng thống. Nếu tổng thống, tuy tuân thủ luật, nhưng dùng quyền hành của mình đến mức quá đáng, điều đó có thể làm lủng đoạn nguy hiểm chế độ"(3).
Đó là điều mà ông Trump đang làm. Ông nói dối như Cuội, ông lừa đảo, ông tiền hậu bất nhất, ông suy nghĩ không dài quá mười câu trong tweets, ông khoái khẩu vị của fake news, cứ thế ông làm mưa làm gió, độc diễn trên sân khấu. Cách ông hành xử quyền lực không phải là cách mà dân chúng quen nhìn. Nhưng ông đang là mẫu mực của các tay dân chủ giả hiệu ở Đông Âu. Ông đánh mất hình ảnh dân chủ của nước Mỹ.
Hình ảnh và lý tưởng đó, các nước Tây Âu đang cố giữ trước bão tố của các thế lực cực hữu. Vấn đề nổi cộm hiện nay vẫn là vấn đề mà tôi nhấn mạnh từ đầu, tôi mượn thêm câu nói của một triết gia hàng đầu vừa mất ở Pháp: Không phải là nguyên tắc dân chủ, mà là làm cách thế nào để thể hiện nguyên tắc ấy. "Các định chế - triết gia Marcel Gauchet ấy nói - trước sau gì cũng luôn luôn chỉ là do những người sử dụng nó hình thành ra. Sử dụng nó thế nào thì nó là thế ấy trên thực tế. Tất cả đều do ở sự khôn ngoan minh triết của các nhà chính trị và ở khả năng của họ biết kiềm chế ảo tưởng của quyền lực"(4). Ông Marcel Gauchet muốn ám chỉ tổng thống Macron đang vất vả với cơn khủng hoảng "áo vàng". Tôi xin dài dòng nói thêm vài câu, không ra ngoài đề.

Cùng một hiến pháp cả (1958, tu chính 1962), và cùng một ông tổng thống ấy thôi, vậy mà ông Macron, mới được bầu chưa đầy hai năm, bắt buộc phải đưa ra hình ảnh một ông tổng thống khác, không ở trên thượng tầng chín bệ như Jupiter nữa, mà bay là là xuống đất, cầm micro giao lưu ngang ngửa với bàng dân thiên hạ, chất vấn không ngừng, trả lời không ngừng, từ sáng đến chiều, từ chiều đến tối, hết nơi này đến nơi khác, tự do, bình đẳng. Đâu có phải hiến pháp làm ông thành khác. Quyền lực của ông vẫn thế. Nhưng cách hành xử quyền lực không thể tiếp tục như trước được nữa. Ông không ngự trên trời, ông không đậu dưới đất, ông thừa thông minh để biết giữ thái độ vừa phải.
Tôi không phải đồng chí đồng rận gì với ông Macron khi đem ông vào đây; tôi biết tôi đang nói chuyện về Montesquieu. Chính vì Monresquieu mà tôi xin thêm vài hàng nữa về ông Macron. Để đối phó với khủng hoảng "áo vàng", ông mở một mặt trận "đại thảo luận" khắp nước Pháp như tôi vừa nói, và ông kết thúc bằng "đại thảo luận" với ai? Với trí thức. Đại trí thức đủ mọi ngành, văn học, triết học, xã hội học, sử địa học, phân tâm học, kinh tế học, khí hậu học... chất vấn ngang xương, trả lời đâu vào đấy, suốt 8 giờ 10 phút không ngừng, cho đến 2g30 sáng. "Khó mà tưởng tượng một cuộc gặp gỡ như thế ở tòa Bạch Ốc", đó là câu bình phảm của một đại trí thức không phải của phe ta (5). Ủa, hay thế, cùng là "tam quyền phân lập" cả mà! Mà sao ván cờ của một tay bợm vô văn hóa, vô trí thức, khác với cách chiếu tướng của một chàng trí thức đến thế! Đâu phải chỉ nguyên tắc dân chủ là làm nên dân chủ! Bao nhiêu "tam quyền phân lập" trên thế giới chỉ cốt để làm nên dân chủ giả cầy.
***
Trở về lại với Hội Thảo của ta. Trong 21 năm làm hội thảo, tôi đã nói là tôi chưa bao giờ động đến chữ "tam quyền phân lập", không phải vì sợ cái chữ ấy có chứa ngòi thuốc nổ gì, mà chỉ vì mọi nguyên tắc đều phải được hiểu đúng đắn trong quá trình lịch sử của nó để áp dụng cho thích hợp trong một thời đại khác, tại một thửa đất văn hóa khác. Trong 21 năm, tôi đã mơ ước có ngày không khí chính trị thông thoáng hơn, cởi mở hơn, tin cậy hơn, mở đầu cho những thảo luận thực sự trí thức, thực sự khoa học, trong sáng như gương. Không khí chính trị ấy là bước đầu. Bước đầu không phải là để cãi nhau về nguyên tắc, học thuyết, tam quyền tứ quyền, điều này điều nọ trong hiến pháp, cương lĩnh hay gì gì đó. Bước đầu là một thái độ văn hóa. Khoan dung là văn hóa. Chừng mực là văn hóa. Đừng coi những người tỏ bày ý kiến xây dựng với mình là kẻ thù. Đừng coi trí thức là kẻ thù. Thế là văn hóa. Hãy coi bất cứ cực đoan nào cũng đều là phản văn hóa. Nói như vậy có gì mới chăng? Đâu có! Ấy là văn hóa truyền thồng của nước ta.
Dù có những lúc đạo Nho là thống trị, nước ta chưa bao giờ có tôn giáo độc tôn. Mà ngay trong đạo Nho, trung dung là tinh yếu. Giữ thái độ vừa phải, không thái quá, không bất cập, ấy là an lạc cho bản thân, điều hòa trong xã hội. Đạo Phật xây dựng cả một triết lý sâu thẳm về trung đạo mà chỉ cần một hình ảnh tầm thường thôi là cũng đủ để tu: chơi đàn thì phải căng dây đàn vừa phải, tiếng nhạc mới tròn.
Từ Montesquieu, tôi thường tự hỏi: tại sao cùng một chế độ quân chủ cả, quyền lực không khác, mà chế độ chính trị thời nhà Trần khác với nhà Lê hay nhà Nguyễn? Phải chăng cả Lê lẫn Nguyễn đều đưa Nho giáo lên địa vị thống trị, trong khi nhà Trần áp dụng thật đẹp tôn chỉ "tam giáo đồng nguyên"? Một bên là thái quá, một bên là dung hợp? Thế chẳng phải là vì cách hành xử quyền lực khác nhau? Dung hợp giữa ba tôn giáo chưa đủ, dung hợp cả trong cách tu: "thiền tịnh đồng tu". Chưa hết đâu: cả Lê lẫn Nguyễn, và cả trong cái văn minh quân chủ mà Lê Nguyễn học thuội từ cái đại quốc thiên triều kia, ở đâu thấy có, dù chỉ là một ý nghĩ thoáng qua thôi, về một Hội Nghị Diên Hồng? Vẫn chưa hết, cái này thì Montesquieu ở dưới mồ chắc sẽ he he lên một tiếng khoan khoái: ở đâu, trên khắp thế giới quân chủ, và nhất là quân chủ ở thiên triều, ngay cả cơ quan và chức năng Vua cũng chia hai, có Vua và có Thái Thượng Hoàng? Ở đâu, trên khắp thế giới quân chủ, có một ông vua lỡ say rượu, phải quỳ trước sân rồng để tạ tội như vua Trần Anh Tông? Tổ tiên ta đã tưởng tượng đến thế, sao ta không tưởng tượng tiếp để đưa thành hiện thực trên giấy tờ mà cứ học thuộc như vẹt? Chính vì chấm dứt tưởng tượng mà bạo chúa làm tiệt nòi minh quân. Thế nào là minh quân, thế nào là bạo chúa? Nếu không phải vì cách hành xử quyền lực khác nhau thì là gì?
Vậy thì xin miễn cho tôi làm chiến tranh nguội, hẩm, hay nóng với những câu hỏi về nguyên tắc trong lúc này. Văn hóa hãy bắt đầu, hãy đi trước chính trị. Bước đầu hãy là bước đi văn hóa. Hãy từ bỏ cực đoan trước đã. Hãy nhắm ích lợi chung trước đã. Hãy biết yêu tự do, ghét nô lệ trước đã. Hãy có tinh thần trọng luật trước đã. Hãy tạo thăng bằng trong nội bộ và nội tâm trước đã. Hãy sáng kiến, hãy tưởng tượng. Hãy biết làm người gãy đàn trước đã, căng dây vừa phải. Dân vừa phải với quyền lực. Quyền lực vừa phải với dân. Hai bên cùng chừng mực đối xử với nhau để đi đến nguyên tắc thành văn. Ấy là văn hóa.
Mong rằng đây không phải là tiếng vạc kêu sương trong đêm dài.
Chú thích:
(1) Michel Debré, La République et ses problèmes, Plon, 1952, tr. 38.
(2) Georges Vedel, La Constitution de 1958, Comité national chargé de la publication des travaux préparatoires des institutions de la Vè République, Document pour servir à l'histoire de l'élaboration de la Constitution du 4- 10-1958, Vol. 5. Commentaires sur la Constitution (1958-1959), La Documentation française, 2001, tr. 345.
Thời Đại Mới | Tháng 8, 2019

Cao Huy Thuần | Chừng Mực 9
(3) Steven Levitsky & Daniel Ziblatt, How Democracies Die, Phỏng vấn trong Le Monde des livres, 8-3-2019.
(4) Marcel Gauchet, Phỏng vấn trong Le Monde, 12-3-2019.
(5) Michel Wieviorka, Xem tường thuật trong Le Monde, 20-3-2019, trang 8 và trang 29.
© Thời Đại Mới
Thời Đại Mới | Tháng 8, 2019
Nguồn: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai38/201938_CaoHuyThuan.pdf?fbclid=IwAR3eZUuAU2JAUqxiDmBj7xS0TgkykiNEOHoTRJS4qklc1dw3TLinhUsKwAI

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2019

Ướ𝐜 𝐯ọ𝐧𝐠 𝐜𝐚𝐨 𝐯ờ𝐢 𝐯ề 𝐦ộ𝐭 𝐦ạ𝐧𝐠 𝐱ã 𝐡ộ𝐢 𝐭𝐡𝐚𝐲 𝐭𝐡ế 𝐟𝐚𝐜𝐞𝐛𝐨𝐨𝐤


Không ai đánh thuế ước mơ, nhưng ước mơ viển vông thì chỉ nên để trong suy nghĩ cá nhân, hay âm thầm hành động mà thôi.

Ông Hùng đang "nhầm chuồng". Ông ấy là chính trị gia, là người đứng đầu ngành của một cơ quan hành pháp, nhẽ ra là nghĩ cách để quản lý doanh nghiệp tuân thủ luật pháp, và tháo gỡ những vướng mắc do cơ chế gây ra để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động. Còn việc đầu tư cái gì, vào đâu, như thế nào đó là chuyện của doanh nghiệp, họ chỉ cần thấy kỳ vọng lợi nhuận cao là họ làm. Nếu anh dùng quyền lực của anh để ép doanh nghiệp thực hiện, trái với quy tắc của thị trường thì chỉ gây tổn hại cho xã hội mà thôi.


Ông ấy sai, thứ nhất là về từ vựng (cái này có thể bỏ qua với công dân bình thường, nhưng với chính trị gia thì không ổn, nhưng nói chung tạm chấp nhận). Ông ấy dùng từ "triết học của facebook" là không hợp lý, người ta gọi là "triết lý của facebook" chứ không dùng từ như ông ấy.


Thứ hai, ông ấy phê phán vấn đề giá trị của 2,3 tỷ người dùng chỉ rơi vào một người là Mark Zuckerberg là một cái hiểu không đầy đủ về kinh tế thị trường. Cần hiểu rằng, trong kinh tế thị trường (tự do) thì ai mang lại nhiều giá trị cho cộng đồng thì sẽ được hưởng lợi nhuận do người dùng sẵn sàng chi trả. Nếu quan điểm đó của ông ấy được mở rộng ra thì chúng ta hãy bỏ sử dụng windows, các sản phẩm của Apple, google… và mở rộng hơn nữa một cách cực đoan thì chúng ta nên không sử dụng bất kỳ sản phẩm nào do người khác làm ra mà chủ động làm ra mọi thứ cho nhu cầu của mình. Và như vậy có lẽ là trở về thời kỳ đồ đá.


Thứ ba, anh nói facebook không tuân thủ luật pháp địa phương cũng không hợp lý. Vấn đề là địa phương phải có hệ thống luật pháp rõ ràng và tuân thủ theo các luật pháp, công ước quốc tế mà địa phương đó có tham gia thì các doanh nghiệp nước ngoài buộc phải tuân thủ, sai thì anh có đủ cơ sở để xử lý buộc họ phải tuân thủ. Anh bắt các tổ chức nước ngoài phải "nhập gia tùy tục" lại là cái kiểu tư duy làng xã, nếu họ "nhập gia tùy tục" mà tục của anh trái với "tục" của quốc gia họ, hay "tục" của quốc tế thì họ sẽ bị xử phạt, thậm chí nếu "tục" của anh trái với lương tri thì họ còn tự hành hạ thân tâm của mình. Luật chơi của facebook tạo ra nó phải tuân thủ luật pháp của Hoa Kỳ - một trong những nước có hệ thống luật pháp thuộc hàng văn minh hàng đầu thế giới. Hơn thế nữa, họ là doanh nghiệp toàn cầu nên phải tuân thủ hệ thống luật pháp quốc tế, bằng chứng là chính facebook cũng đã từng bị những khoản phạt rất nặng khi vi phạm việc cung câp thông tin người dùng cho bên thứ ba. Vì thế "triết lý" hoạt động của facebook dù chưa gọi là hoàn hảo, nhưng nó đã làm tốt nhất có thể với họ, bởi thực tế nếu tuân thủ chặt chẽ mọi quy tắc mà các địa phương yêu cầu, họ sẽ tốn kém chi phí và phải đánh đổi với lợi ích mang lại. Vì thế, là cơ quan hành pháp thì hãy tìm những những bằng chứng, chứng minh họ đã vi phạm luật pháp của địa phương (những luật này cũng tuân thủ luật pháp quốc tế) để xử lý họ. Có như vậy mới quản lý họ được.

Thứ tư, về mặt ý tưởng, ông ấy tưởng rằng ông ấy là người duy nhất có ý nghĩ đó. Thật là khôi hài. Thế giới 8 tỷ người giả sử trong đó 6 tỷ người từ 15 tuổi – 70 tuổi, thì cũng có vô số người ở hàng trăm quốc gia trên giới đã nghĩ về ý tưởng đó, đồng thời cũng có vô số người đã thực hiện những ý tưởng đó rồi, tất nhiên thành công thì không nhiều, và cách họ làm cũng không hẳn là cạnh tranh trực tiếp với facebook, google... Vì thế, không thể suy nghĩ cạnh tranh theo kiểu sống còn như vậy. Phải suy nghĩ theo hướng thị trường, có thể mình là một phần nào đó trong hệ sinh thái của facebook nhằm phục vụ người dùng, hay cũng có thể là còn một số khách hàng không thích facebook thì mình chọn thị trường ngách đó để khai thác thì hợp lý, chứ không nên suy nghĩ chưa làm đã nghĩ chiến đấu với "người khổng lồ". Mà muốn có những thứ sáng tạo đó thì bộ óc con người phải được giải phóng, mới có được những ý tưởng sáng tạo vượt trội được. Chứ cứ cái thể chế khiến cho con người chỉ nghĩ những gì mình muốn thôi đã không dám rồi thì lấy đâu được sáng tạo. Mở rộng hơn thì thực tế cũng cho thấy, đến nay thế giới vẫn chỉ có một "Thung lũng silicon" mà chưa thể có cái thứ hai, dù rất nhiều quốc gia trên thế giới đều muốn có cái "thung lũng" này.


Nhẽ ra, với cái nhìn sâu và vĩ mô hơn, anh có thể nói rằng, hiện nay các tập đoàn lớn trên thế giới có quyền lực vô cùng lớn với người dùng, họ bắt người dùng phải tuân thủ những quy tắc mà họ đặt ra (tất nhiên những quy tắc này vẫn phải tuân thủ luật pháp của các quốc gia), để mỗi khi người dùng vi phạm là họ cấm, họ cắt… và quan trọng hơn, họ chỉ cho người dùng coi những gì mà họ muốn cho coi, họ tạo ra một thế giới ảo như là một "Thế giới mới tươi đẹp" của Aldous Huxley đã tưởng tượng ra, nó như một ma trận để người dùng chìm đắm trong đó mà không phát hiện ra được, biến con người thành "nô lệ" cho họ (ý tưởng trong phim  Ma trận), đó là vấn đề hết sức nguy hiểm mà mạng xã hội nói chung đang gây ra cho con người. Nhưng nó lại đang là một xu thế không thể đảo ngược của thời đại, đặc biệt là thời đại công nghệ 4.0 ngày nay. Anh có thể khuyến khích doanh nghiệp tạo ra thêm nhiều lựa chọn khác cho người dùng, để giúp mọi người "tỉnh táo" (take the red pill) thoát ra khỏi thế giới ảo mà một vài ông lớn tạo ra, khi đó mọi người sẽ quay về những giá trị gốc của con người, tránh quá xa đà và các mạng xã hội, thay vào đó là tìm đọc những tác phẩm kinh điển đã được lịch sử chứng minh để hiểu quy luật của con người, của tự nhiên, của xã hội. Những điều đó thường có ở những tác phẩm lớn thuộc lĩnh vực tôn giáo và triết học, lịch sử. Và đọc những thứ này cũng giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng, đầy đủ, đa chiều về những phát biểu tương tự của ông Hùng. Chúng ta có thể hiểu về những động lực nào ẩn đằng sau những phát biểu của giới chức Việt Nam về việc lập ra một mạng xã hội và công cụ tìm kiếu thay thế facebook, google.


Kết lại: Nói chung những câu này chỉ được hiểu theo nghĩa "chém gió" của thời hiện đại, và nó hợp với vị trí tuyên giáo, tuyên truyền, và hợp nhất là trong cuộc trà dư tửu hậu khi các đàn em đệ tử đang cung phụng tiếp đãi rượu thịt… cho người có quyền mà thôi. Với hiện trạng này thì những ước mơ đó có thể gọi là viển vông mà thôi. Chỉ có thể thông cảm cho ông ấy là bởi vì ông nắm quá nhiều vai, từ lập pháp đến hành pháp, ông là người đứng đầu cơ quan hành pháp chuyên ngành nhưng lại giữ vị trí chủ đạo trong việc lập pháp trong lĩnh vực thông tin, truyền thông. Đồng thời ông cũng có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực tư pháp khi có thể phân xử việc sai/đúng của các thành viên trong xã hội. Thêm nữa, ông đang nắm vị trí quan trọng của cơ quan tuyên giáo nên lời nói phải mang nghĩa tuyên truyền nhằm đảm bảo lợi ích của những người có quyền hiện nay. Nhưng nên nhớ, tất cả quyền lực nằm trong tay một người, hay một nhóm người đều gọi là độc tài, mà đã độc tài thì là tệ hại, và chỉ gây tác hại vô cùng nguy hiểm cho xã hội mà thôi.

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018

Thiền, thiền hành – Hãy bắt đầu từ sự đơn giản

Thiền - Bắt đầu từ sự đơn giản
Nói đến thiền, chúng ta thường nghĩ đến hình ảnh những vị thiền sư ngồi yên bất động với những tư thế khó trong một không gian tĩnh lặng, thậm chí phim ảnh còn làm ra hình ảnh những làn khí mang năng lượng vô cùng lớn bốc ra từ cơ thể của thiền giả… Chính những điều này làm cho “thiền” trở nên xa rời hơn với đời sống thực tại, nó trở nên quá khó khăn thậm chí đến mức phi thường, do đó những người bình thường không thể thực hiện được. Thực ra đó chỉ là một trong nhiều cách để thực hiện thiền tập. Đúng ra, những gì mà mọi người thường thấy về thiền chỉ nên là nguồn cảm hứng cho người nào muốn luyện tập thiền với mong muốn có được nguồn sức mạnh phi thường, còn với hầu hết mọi người khi bắt đầu luyện tập mà lại luôn nghĩ về những hình ảnh ấy thì chỉ làm cho chúng ta nản lòng và từ bỏ vì quá khó khăn để đạt được mà thôi. Cần hiểu rằng, thiền tập đơn giản hơn thế rất nhiều.

Hình: sưu tầm từ internet
Theo nguyên lý căn bản nhất và mục tiêu đơn giản nhất thì thiền chính là giúp chúng ta tập trung hơn. Hãy bình tĩnh suy ngẫm lại chúng ta sẽ thấy, rất nhiều khi cơ thể (thân) chúng ta ngồi đây nhưng suy nghĩ (tâm) của ta thường hướng đến một đối tượng nào đó ở chỗ khác. Chúng ta thường hay lo lắng nhiều về tương lai hay đau buồn về quá khứ. Đang ngồi ăn nhưng trong đầu luôn bộn bề những lo toan về cuộc sống, về những dự án, những công việc đang còn dang dở. Đang ngồi trong không gian tĩnh mịch và được nghe những bản nhạc du dương, nhưng chúng ta lại nghĩ về những hoạt động vui chơi cuồng nhiệt, hay về một trận bóng đá có đội bóng chúng ta yêu thích đang thi đấu, hay đau đáu về những sai lầm đã mắc phải trong quá khứ. Đang chơi đùa và được nghe những tiếng cười của con trẻ nhưng trong đầu ta lại lo nghĩ về những vấn đề có ảnh hưởng đến sự thành bại trong công việc kinh doanh. Với thời đại của smart phone lại càng tệ hại hơn, dù đang làm bất cứ việc gì, chúng ta thường có thói quen cầm theo chiếc điện thoại để lướt qua đủ các loại dòng tin tức, các thông báo trên màn hình gửi đến ta khiến ta bị cuốn theo nó một cách rất bị động. Chúng ta tưởng rằng cùng lúc chúng ta có thể làm được rất nhiều việc một cách hiệu quả, nhưng thực tế nó lại làm hại chúng ta. Đầu óc chúng ta suy nghĩ về rất nhiều thứ cùng một lúc, nó gây ra những cảm xúc hoặc quá vui, khi lại quá buồn, trong khi lại bỏ qua hiện tại. Tình trạng này là do thân và tâm của ta mỗi thứ một nơi, thân ở nơi này nhưng tâm luôn bay bổng nơi xa xăm nào đó. Hậu quả là, những cảm xúc này vừa tiêu tốn rất nhiều năng lượng của ta một cách vô ích thậm chí lại còn làm hại đến tâm lý của ta, đầu óc ta luôn bị rối loạn, lúc nào ta cũng có cảm giác là con người vội vã, nó khiến cho chúng ta không thể cảm nhận được hiện tại, không còn biết niềm vui nào ở hiện tại. Nếu cứ hành động như vậy liên tục sẽ thành thói quen, khiến chúng ta không thể tập trung làm bất cứ việc gì, và chất lượng cuộc sống sẽ giảm đi rất nhiều giá trị. Vì vậy, điều quan trọng nhất của thiền tập là giúp cho chúng ta tập trung, làm cho thân và tâm hợp lại với nhau, hòa vào làm một để cảm nhận giây phút của hiện tại và của thực tại, lúc đó mới đúng nghĩa là chúng ta đang sống.

Chính vì lẽ đơn giản đó nên đôi khi chỉ là 1-2 phút tập trung hoàn toàn vào hiện tại cũng chính là thiền tập rồi. Do đó, chúng ta cũng có thể thực hiện thiền ở bất cứ đâu, dù ở nhà hay nơi làm việc, thậm chí ngay cả khi đang đi trên đường... và cũng chỉ cần 1-2 phút đơn giản đó thôi, nhưng lại mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích về sức khỏe thể chất cũng như sức khỏe tinh thần. Tùy vào hoàn cảnh cuộc sống mỗi người, chúng ta có thể thực hiện thiền tập theo những cách khác nhau, dù ở tư thế đi, đứng, ngồi, nằm… chúng ta đều có thể thực hiện thiền tập. Ở mỗi cấp độ của thiền tập cũng có cách thực hiện khác nhau, nó cũng tương tự như khi chúng ta luyện tập một kỹ năng nào đó thì đều phải đi từ đơn giản đến phức tạp. Muốn đạt đến mức độ chuyên nghiệp hay cao hơn là phi thường thì cần phải có phương pháp luyện tập đúng đắn theo một vòng xoáy đi lên trong luyện tập (hay trong học tập) một kỹ năng là: i) Yêu cuồng nhiệt kỹ năng đó; ii) Luyện tập ở cường độ cao, liên tục; và iii) Tiến bộ nhanh. Nhưng quan trọng, để có thể yêu cuồng nhiệt một kỹ năng thì nhất thiết ta phải chọn được loại kỹ năng tốt (tốt cho xã hội hay ít nhất là tốt cho chính mình mà không làm tổn hại người khác), đúng đắn thì mới có thể yêu nó liên tục và lâu bền được (chủ đề này nằm ngoài phạm vi của bài viết nên chỉ nói ngắn gọn ở đây).

Nói một cách chuyên môn, theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh thì: “Thiền tập gồm hai giai đoạn. Thứ nhất là thiền chỉ, chỉ có nghĩa là dừng lại, dừng lại mọi suy nghĩ tập trung vào một điểm để làm tâm tĩnh lặng. Thứ hai là thiền quán, là khả năng chú tâm nhìn sâu để đạt được sự thấu hiểu. Trong thiền chỉ, ta chỉ chú tâm vào một việc, ví dụ như bước chân hay hơi thở”. Chú tâm luôn có nghĩa là chú tâm vào một cái gì. Chánh niệm luôn là chánh niệm về một cái gì. Ta không thể chú tâm hay chánh niệm về không-một-cái-gì. Vậy thì muốn thực tập chánh niệm, ta cần một đối tượng. Khi chú tâm vào hơi thở thì hơi thở là đối tượng của sự chú tâm và chánh niệm. Khi tạo ra năng lượng chánh niệm thì năng lượng ấy sẽ ôm ấp đối tượng của niệm và giữ nó sống động trong tâm trí.
Tiếp tục duy trì chánh niệm vào đối tượng, ta có thể đạt tuệ giác. Đây là bước thứ hai của thiền tập. Ví dụ khi giận, ta muốn tìm ra lý do. Thực tập niệm và định giúp ta thấy được bản chất của cơn giận và tuệ giác đó giải phóng ta khỏi buồn giận. Đối tượng của niệm và định càng hấp dẫn ta càng dễ định tâm, nếu không thì dù cố gắng ta vẫn khó chú tâm. Do đó, bí quyết là chọn một đối tượng hấp dẫn; đối tượng mà hấp dẫn thì tuệ giác sẽ đến nhanh.”

Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng nói: “Hơi thở là cầu nối giữa thân và tâm”, tập trung vào hơi thở sẽ dễ dàng giúp cho thân và tâm hòa vào làm một. Hơi thở có ý thức khác hẳn với hơi thở vô thức mà thường chúng ta hay thở. Hơi thở thông thường sẽ không đẩy hết toàn bộ khí trong phổi, và luôn bị tồn đọng trong phổi, trong đó có rất nhiều chất độc cũng tồn động theo và rất không tốt cho cơ thể. Hơi thở có ý thức và đều đặn thường giúp hơi thở được dài hơn, sâu hơn, vì vậy cũng đẩy được gần như toàn bộ khí trong phổi ra khỏi cơ thể, vì thế chất độc cũng được đẩy hầu hết ra khỏi cơ thể (tất nhiên chất độc cũng được đẩy ra khỏi cơ thể qua các con đường khác như mồ hôi, tiểu tiện…).

Tóm lại, thiền tập một cách đơn giản nhất chính là sự tập trung. Chúng ta có thể thực hành trong mọi công việc hàng ngày: Làm việc gì thì chỉ tập trung vào việc đó, không được đang làm việc này mà đầu óc lại nghĩ sang việc khác, muốn tập trung được thì cần chọn việc đúng mà chúng ta yêu thích, khi đó sẽ dễ dàng để ta tập trung vào việc đó.

Ứng dụng vào thiền hành (đi bộ thiền)
Hình: sưu tầm từ internet

Đi bộ thiền hay thiền hành chính là việc tập trung hoàn toàn tâm trí vào bước đi. Nhưng vì sao lại là thiền đi bộ mà không phải là thiền chạy. Đơn giản bởi vì khi chạy thì chân, tay, cơ thể, mắt… đều phải hoạt động rất nhanh, do đó sẽ cần rất nhiều nhiều năng lượng cùng một lúc, khi đó hơi thở buộc phải gấp gáp hơn, cơ thể cũng sẽ nhanh mệt hơn, và trí não cũng sẽ bị phân tâm nhiều hơn. Còn khi đi bộ, cơ thể hoạt động nhẹ nhàng với tốc độ chậm, trí não dễ dàng tập trung vào từng bước đi, hơi thở cũng dễ dàng duy trì đều đặn, thở dài và sâu hơn. Tốt hơn nữa là chúng ta nên tạm thời đóng hết các cơ quan giác quan khác lại, có thể dùng tai nghe để nghe nhạc thiền, hoặc loại nhạc nhẹ nhàng để tai gần như không bị phân tâm bởi tạp âm bên ngoài. Mắt thì tập trung vào phía trước, hoặc nếu điều kiện cho phép (đường đi vắng người và không có chướng ngại vật…), chúng ta có thể nhắm mắt nhẹ và đi, lâu lâu lại mở mắt để quan sát đường rồi lại nhắm trở lại để tập trung hơn. Còn nếu điều kiện không cho phép thì có thể để tai, mắt vào việc cảm nhận âm thanh, hình ảnh của thiên nhiên. Áp dụng triệt để với các giác quan khác để nhằm giúp ta tập trung suy nghĩ vào bước đi một cách tối đa. Lúc này có thể dành tâm trí vào việc đếm từng bước chân so với từng nhịp thở. Đặc biệt nên cảm nhận sự phồng xẹp của phần bụng dưới theo từng hơi thở, đây là khu vực nằm xa bộ não, nơi rất dễ di chuyển, dao động, còn phần bụng dưới rất ít di chuyển nên rất vững chãi, vì vậy cũng giúp dễ tập trung tâm trí của ta. Bước đi trong trạng thái như vậy, ta sẽ cảm thấy thật sự êm dịu, nhẹ nhàng và sảng khoái trong tâm trí. Cơ thể được thư giãn và rất dễ chịu. Tập quen dần thì ta có thể áp dụng bước thiền quán như Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói ở trên, đó là tập trung suy nghĩ về những vấn đề đang diễn ra quanh ta, nhìn nhận sâu hơn vào chúng, thấu hiểu nó, để từ đó dễ dàng hơn trong việc tìm ra giải pháp để giải quyết chúng. Với cách thiền hành như vậy, cơ thể cũng không cảm thấy sự mệt mỏi, vì vậy, chúng ta có thể đi miệt mài mà không thấy mệt, và cứ muốn đi mãi không dừng.

Một điều cần chú ý nữa là, như Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng nói, sẽ rất cần thiết có những tăng thân đi cùng trên con đường tu tập. Khi thiền hành nói riêng, hay thiền nói chung, nếu có được những người bạn đồng hành sẽ là điều tuyệt vời. Bởi nó sẽ giúp ta có thêm động lực, tăng thêm niềm vui, từ đó thêm yêu thích khi luyện tập, để có thể luyện tập một cách bền bỉ, liên tục, lâu dài, và chính là áp dụng theo quy tắc upward spiral đã nói ở trên. Điều đó, sẽ giúp chúng ta đạt được thành công trên con đường thiền tập một cách dễ dàng hơn rất nhiều.
Điều quan trọng của luyện tập là tạo được thói quen và duy trì liên tục

Với riêng người viết cũng vậy, luôn có con gái là người bạn đồng hành trên mỗi chặng đường. Nhờ quá trình luyện tập này, con gái đã học được rất nhiều môn thể dục khác nhau với những thành tích vượt xa kỳ vọng, cũng như vượt xa mức trung bình của những trẻ khác, và đó cũng là động lực cho ba thực hiện thiền hành một cách bền bỉ, đều đặn và đạt được những thành công nho nhỏ trên con đường thiền tập.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Mỹ đã, đang và sẽ làm gì để đối phó với Trung Quốc?

Chính quyền của TT. Trump mới đây nhất đã ban hành những chính sách mà đối tượng chịu tác động lại là du học sinh Trung Quốc (TQ) đang có mặt tại Mỹ là bởi vì sao?


Nguồn: Internet
Du học sinh hay các nhóm khác như doanh nghiệp TQ đầu tư vào Mỹ, nhóm tin tặc TQ (sống ở khắp nơi trên thế giới nhưng tập trung chủ yếu tại TQ và một phần tại Mỹ), thậm chí du khách TQ được chính quyền TT Trump coi là một dạng gián điệp của TQ. Để đề phòng gián điệp TQ thì Mỹ sẽ thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế và kiểm soát các nhóm này trong đó có nhóm du học sinh. Trường hợp xác định được là gián điệp thì đối tượng sẽ bị trừng phạt một cách cứng rắn.

Các chính sách khác mà chính quyền của TT. Trump đã, đang và sẽ thực hiện nhằm đối phó với “nhà nước thực dân kiểu mới TQ” gồm có:

1. Vấn đề thương mại
- Thông qua các đạo luật về thương mại tự do và công bằng với Mỹ và tất nhiên đối tượng bị áp dụng chủ yếu sẽ là TQ hay những quốc gia có chính sách tương tự TQ, bởi thực tế hiện nay trường phái ủng hộ tự do thương mại, cổ vũ tự do thương mại với TQ nhưng họ cố tình bỏ qua vấn đề công bằng trong thương mại.
- Kiểm soát chặt chẽ xuất xứ hàng hóa ngay cả với những thương hiệu lớn của thế giới nhưng sản xuất tại TQ nhằm hạn chế thâm hụt thương mại với TQ.
- Tăng cường kiểm soát chất lượng và tăng hình phạt đối với hàng hóa kém chất lượng mang danh giá rẻ của TQ.
- Tăng cường kiểm soát với các loại hàng hóa, các doanh nghiệp kinh doanh nhưng gây ra hủy hoại môi trường, lạm dụng lao động trẻ em, lao động phụ nữ hay lớn hơn là các doanh nghiệp mà vấn đề công đoàn lao động không được bảo đảm.
- Cấm các doanh nghiệp nhà nước hoặc được hẫu thuẫn bởi nhà nước TQ mua các công ty tư nhân.
- Giảm đầu tư vào TQ và chuyển qua các thị trường khác.
- Chặn đứng việc bắt buộc chuyển giao công nghệ và ăn cắp thành quả nghiên cứu của Mỹ (khi đầu tư vào TQ).
- Rút khỏi các hiệp định thương mại, các thỏa thuận trước đây, các tổ chức quốc tế (bởi vai trò “giả tạo” của nó trong khi Mỹ phải tốn nhiều nguồn lực để “nuôi dưỡng” các tổ chức này) sau đó sẽ đàm phán lại với từng trường hợp cụ thể. Chặn đứng việc TQ lạm dụng quyền phủ quyết tại Liên Hiệp Quốc để dung túng (qua việc mua bán quyền phủ quyết) các chế độ độc tài.


Nguồn: Internet
- Giải quyết thao túng tiền tệ (thao túng tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu của chính quyền TQ) bằng cách áp đặt các loại thuế phòng vệ để đưa đồng nhân dân tệ lên giá trị hợp lý.
- Đối phó với chính sách của TQ về kiểm duyệt, hạn chế sở hữu, hạn chế đầu tư trong lĩnh vực giải trí, truyền thông, và Internet và ngầm hỗ trợ cho hoạt động ăn cắp bản quyền tại TQ, Mỹ sẽ có thể thông qua đạo luật ngăn cản bất kỳ công ty truyền thông và Internet nào của TQ tham gia vào việc kiểm duyệt được niêm yết và huy động vốn từ thị trường chứng khoán Mỹ.

2. Quốc phòng an ninh
- Ngăn chặn và xử lý vấn đề gián điệp (như đã nói ở trên) bằng cách kiểm soát chặt chẽ những cá nhân có yếu tố TQ vào Mỹ, hạn chế thậm chí cấm nhập cảnh vào Mỹ đối với những đối tượng này, phong tỏa tài khoản những quan chức TQ dính líu tham nhũng đang ẩn náu dưới nhiều hình thức tại Mỹ.
- Tránh rơi vào cuộc chạy đua vũ trang không cần thiết đặc biệt phải đối phó với một quốc gia có nền tảng cực lớn về nguồn lực như TQ (bài học rút ra từ sự thất bại của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh lạnh trước Mỹ), bởi nếu bị cuốn theo làn sóng này rất có thể ngân khố Mỹ sẽ luôn bị thiếu hụt và mất đi sự độc lập, nguy hiểm hơn là tiếp tục phụ thuộc vào việc tài trợ thông qua bán trái phiếu kho bạc cho TQ.
- Xử lý vấn đề về phá hủy, gây nhiễu loạn hệ thống thông tin vũ trụ, không gian, trạm GPS…
- Ngăn chặn và xử lý với các vấn đề về không gian như khai thác tài nguyên, khẳng định quyền sở hữu trong không gian, vũ trụ trước khi TQ kịp làm điều đó. Vấn đề liên quan vũ trụ, không gian cũng sẽ là ưu tiên để Mỹ tập trung cho tương lai.

3. Truyền thông, thông tin, hỗ trợ cho người dân TQ
- Với nền tảng độc tài toàn trị thì chính nhân dân TQ lại thường là “kẻ thù” của nhà nước TQ, họ bị kiểm soát, kiểm duyệt, hạn chế tiếp xúc với thế giới bên ngoài ngay cả qua internet. Vì vậy, trao cho họ khả năng tiếp cận thông tin để họ tự ý thức được quyền của mình (nhân quyền) từ đó yêu cầu chính quyền TQ tuân thủ các luật chơi của các quốc gia dân chủ văn minh.
- Hạn chế buôn bán các công cụ kiểm duyệt (internet) cho nhà nước TQ, truyền thông thông tin từ thế giới bên ngoài qua các công cụ truyền thông của Mỹ cho người dân TQ.

=> Giải pháp cho vấn đề này chính là dùng người dân TQ để chống lại nhà nước độc tài toàn trị TQ, và cũng để giúp TQ tiến đến một nhà nước văn minh hơn.

4. Tổng mặt trận nói chung
Tách các quốc gia khác ra khỏi sự vây hãm theo kiểu chủ nghĩa thực dân kiểu mới của TQ. Kêu gọi đồng minh và cả thế giới cùng hướng mục tiêu cô lập TQ, buộc TQ phải tham gia trò chơi theo nguyên tắc tự do nhưng phải công bằng cả trong lĩnh vực thương mại và các lĩnh vực khác.

Kết lại: Chúng ta thấy rằng những giải pháp đưa ra của Mỹ trước TQ thì không chỉ đơn thuần ở góc độ kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, một quốc gia không thể tách biệt hoàn toàn với thế giới, nhất là với những quốc gia chiếm giữ vị trí quan trọng trong bất kể lĩnh vực gì, thì khi bàn về vấn đề kinh tế hay bất kể lĩnh vực nào khác mà không hiểu, hay cố tình bỏ qua vấn đề chính trị toàn cầu thì sẽ luôn là thiếu sót, bởi chính trị và kinh tế luôn đi cùng nhau và chi phối lẫn nhau. Vì vậy, những chính sách hiện nay của TT Trump phải được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, nên khi triển khai phải thực hiện tổng lực trên các mặt trận này, hay mọi mũi giáp công của Mỹ đều hướng đến TQ bởi sự nguy hiểm của chủ nghĩa thực dân kiểu mới của TQ đang làm lũng đoạn cả thế giới. Tất nhiên khi triển khai thì mọi mánh lới (kể cả kiểu thuyết âm mưu) đều có thể được sử dụng, và với bản lĩnh của một doanh nhân lão luyện, kỹ năng đàm phán đã được tôi luyện trong suốt cuộc đời kinh doanh của mình thì TT. Trump sẽ gây ra vô số khó khăn cho TQ.

Bốn nhóm giải pháp đã nêu trên đây là tóm tắt một số quan điểm chính tại tác phẩm “Chết bởi tay TQ” của Giám đốc Hội đồng Thương mại Quốc gia Nhà trắng – Peter Navarro. Đây là một cuốn sách rất nên đọc để có thể hiểu và dự đoán phần nào về diễn biến tình hình thế giới hiện nay nhất là mối quan hệ giữa hai siêu cường Mỹ - Trung.

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2018

Chủ quyền quốc gia và quyền được sống của mỗi con người

(Hình: sưu tầm từ internet)

Triết gia Montesquieu đã nói trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" rằng đời sống của các quốc gia cũng tương tự như đời sống của con người. Mỗi người có quyền chống lại kẻ tấn công mình (thậm chí giết chết kẻ thù) nhằm tự bảo vệ lấy tính mạng của mình, trường hợp này, luật pháp coi đó là quyền tự vệ chính đáng, bởi quyền được sống là một quyền cơ bản nhất của con người (nhân quyền). Tương tự như vậy, mỗi quốc gia có quyền tiến hành chiến tranh khi cần phải tự vệ để tránh thảm họa bị diệt vong.

Ở các quốc gia có hệ thống pháp luật nghiêm minh, sự can thiệt của hệ thống pháp luật là kịp thời, thì quyền tự vệ tự nhiên giữa các công dân không nhất thiết gồm việc tấn công kẻ khác. Khi người dân bị tấn công thì họ chỉ cần kiện ra tòa án để nhờ can thiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của mình; nhưng trong trường hợp nếu chờ đến sự can thiệp của pháp luật thì đã nguy đến tính mạng, thì người dân được quyền tấn công để tự vệ. Tương tự, khi một dân tộc thấy rằng nếu cứ để yên lâu dài thì đối phương sẽ tiêu diệt mình; lúc đó tấn công là biện pháp duy nhất để giữ cho dân tộc khỏi bị tiêu diệt. Do đó các nước nhỏ thường có quyền tiến hành chiến tranh nhiều hơn là các nước lớn, vì nước nhỏ thường hay bị tấn công và sợ bị tiêu diệt. Điều này cũng giải thích vì sao ở các quốc gia có hệ thống pháp luật kém nghiêm minh, sự can thiệp của hệ thống nhà nước để bảo vệ quyền lợi của công dân chậm chạp, thì người dân thường ưa sử dụng bạo lực để hành xử. Chỉ cần một mâu thuẫn nhỏ phát sinh là mỗi người sẵn sàng sử dụng vũ lực để chống lại đối phương nhằm tự vệ cho chính mình.

Đó là nguyên lý về quyền tự vệ chính đáng, hay quyền phát động chiến tranh ở phạm vi quốc gia, nó phát sinh từ tính tất yếu và từ lẽ công bằng cứng rắn. Hệ thống luật pháp của các quốc gia mà không nắm vững điều này thì sẽ mất hết.

Trong mối quan hệ giữa các quốc gia, thì cần hiểu rằng độc lập chủ quyền của một quốc gia là tối thượng. Không một quốc gia nào dù lớn mạnh đến đâu và nhân danh bất cứ điều gì có quyền xâm phạm độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác, bởi nó cũng giống như quyền được sống của mỗi con người.

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

Chủ nghĩa cá nhân trong một quốc gia thịnh vượng

(hình: sưu tầm từ internet)


Bản chất con người là vì mình. Đó là sự thật không thể phủ nhận. Dù nói bất kỳ điều gì, thể hiện như thế nào trước công chúng, thì ẩn đằng sau những lời nói đó là nhằm mang lại lợi ích cho chính mình. Người giỏi thì tính mục tiêu lâu dài, người yếu thì tính mục tiêu ngắn hạn, hoặc nếu hoàn cảnh nhiều rủi ro thì dù giỏi cũng buộc phải tính ngắn hạn. Mục tiêu vì mình không nhất thiết phải là tiền bạc, mà còn nhiều mục tiêu lớn khác với con người là quyền lực, danh vọng... hay thậm chí mục tiêu tiền bạc cũng là mục tiêu sâu xa, ẩn đằng sau mục tiêu quyền lực và danh vọng.

Một xã hội tốt đẹp là phải giúp cho mỗi người dân luôn nỗ lực sáng tạo để làm lợi cho mỗi cá nhân nhưng đồng thời không được gây tổn hại đến lợi ích của người khác, tốt hơn nữa là làm lợi cho mình và làm lợi cho cả xã hội nói chung.

Những người theo chủ nghĩa vị lợi cực đoan, họ thường nghĩ rằng, mỗi con người, mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, do đó, mỗi người cứ cố gắng sống cho mình tốt lên là xã hội sẽ tốt lên, đó là một quan niệm hết sức sai lầm. Ví dụ đơn giản như khi tiến hành xây dựng một tòa nhà cao tầng, hiện đại ngay giữa trung tâm của một đô thị cổ nhưng rất đông đúc, chật hẹp. Khi đánh giá về góc độ tài chính của dự án tòa nhà thì rất khả thi, mang lại nguồn lợi tài chính lớn cho chủ đầu tư. Tuy nhiên, tòa nhà được xây lên sẽ phá nát quy hoạch, quang cảnh chung của toàn bộ đô thị cổ, mất đi giá trị cổ kính vốn có của đô thị này. Những vấn đề khác như gây nên tình trạng quá tải lượng dân cư sống, dẫn đến kẹt xe, ngập lụt, an ninh phức tạp… tạo ra tổn thất phúc lợi xã hội rất lớn. Nếu buộc phải dùng nguồn lợi tài chính mà tòa nhà mang lại để bù đắp những tổn thất xã hội đó thì dự án hoàn toàn mất đi tính khả thi. Nghĩa là nếu cứ để mọi tổ chức, cá nhân hành động vì lợi ích của mình thì dễ gây ra tổn thất chung cho những tổ chức, cá nhân khác. Như nhà tư tưởng, người được ví như bậc khai quốc công thần thời Minh Trị Nhật Bản – Fukuzawa Yukichi – cũng nói rằng: "Một người sinh ra chỉ nghĩ đến sinh nhai và làm lụng để nuôi gia đình thì đó là bình thường, không có gì xấu hổ nhưng vạn người, triệu người đều thế thì hỏng."

Vậy mỗi người sẽ dựa vào đâu để nhìn nhận, đánh giá vấn đề và ra quyết định hành động nhằm mang lại lợi ích cho mình, đồng thời cũng làm cho xã hội được tốt lên?

Nếu một người may mắn được tiếp nhận những triết lý uyên thâm, nguyên bản của một trong những trường phái tôn giáo lớn ngày nay như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo,… thì họ sẽ có cơ sở tốt hơn để ra quyết định. Tuy nhiên, các triết lý của các tôn giáo thường trừu tượng, ngôn từ cũng chưa thật sự gần gũi, chưa thật sự ngắn gọn, thậm chí còn bị bóp méo vì các mục đích không trong sáng, lại kết hợp thêm những yếu tố huyền ảo mang đậm màu sắc tâm linh, khiến cho những triết lý của các tôn giáo trở nên xa rời cuộc sống, thiếu đi tính thực tại, làm mất đi tính sâu sắc, uyên thâm của các triết lý tôn giáo.

Vì vậy, đơn giản hơn chúng ta có thể tham khảo những triết lý từ các trường phái triết học, với từ ngữ thường ngắn gọn, dễ hiểu và dễ truyền đạt hơn. Chúng ta hãy cùng tham khảo quan điểm của Giáo sư triết học của Đại học Harvard - Michael J. Sandel mà ông đề cập trong tác phẩm "Phải Trái Đúng Sai" của mình về cách đánh giá, phán xét một vấn đề. Theo đó, có ba cơ sở hay phương pháp đánh giá nhằm tiếp cận công lý là: i) Tôn trọng quyền tự do cá nhân (Con người được quyền tự do làm điều mình thích nhưng không được phạm vào tự do của người khác, đồng thời cũng không phải làm điều mình không thích); ii) Tối đa phúc lợi (mang lại lợi ích cho nhiều người nhất hay tổng lợi ích xã hội là dương); và iii) Đạo đức và lối sống tốt đẹp (không được phạm vào nguyên tắc đạo đức của xã hội, đồng thời khuyến khích những hành động cao cả). Hành động nào không đáp ứng được cả ba tiêu chí này thì đều cần phải xem xét kỹ càng, còn nếu nó đáp ứng được cả ba thì nó là đúng đắn, và mọi người hay xã hội cần cổ vũ, khuyến khích, hỗ trợ hay hợp tác để cho hành động đó được thực thi.

Quan điểm này cũng cho thấy, phúc lợi chỉ là một trong ba tiêu chí để phán xét một vấn đề. Hơn nữa, tổng phúc lợi xã hội là một tiêu chí phức tạp để đánh giá. Điều quan trọng là phải nhìn nhận phúc lợi ở mọi góc nhìn của các chủ thể chịu tác động của hành động đó, chứ không chỉ ở người ra quyết định hành động. Mà muốn có đủ góc nhìn thì lại đòi hỏi yêu cầu về tính tự do đưa ra các quan điểm của mình, nó thuộc về phạm vi của từ “tự do” mà tiêu chí thứ nhất đã nói. Tiếp theo là quan điểm về đạo đức. Nó là một khái niệm động, cùng một hành động đó có thể lúc này là hợp đạo đức, nhưng khi quan điểm xã hội thay đổi thì không còn hợp đạo đức nữa. Hay ở khu vực này thì hành động đó là đạo đức, ở khu vực khác lại là không có đạo đức. Ví dụ đơn giản như quan điểm về mại dâm, sòng bạc dưới góc nhìn đạo đức vẫn chưa thể hoàn toàn thống nhất, nó tùy thuộc mỗi nơi, mỗi thời điểm, mỗi con người… Và tương tự như trên, quan điểm về đạo đức cũng cần có được sự tự do biểu đạt góc nhìn của mỗi người về tính đạo đức của hành động. Điều này cũng cho thấy tự do là vô cùng quan trọng trong việc phán xét vấn đề.

Như vậy, phải-trái, đúng-sai không phải lúc nào cũng có thể phán xét một cách rõ ràng, phân minh. Nó tùy thuộc vào hoàn cảnh, quan điểm, cách nhìn nhận sự việc của mỗi người, cái được hình thành từ quá trình trưởng thành của người đó. Thậm chí với chính người đó thì lúc này là đúng mà khi nhận thức của anh ta thay đổi thì lại là sai… Bất đồng quan điểm là tất yếu của xã hội, nhưng vấn đề xã hội cần phải được nhìn nhận dưới con mắt phản biện, tranh luận dựa trên căn cứ khoa học ở mọi góc nhìn khác nhau. Cứ đưa mọi vấn đề ra ánh sáng, để chiếu rọi mọi góc tối của vấn đề, có như vậy mới nâng cao tri thức và đạo đức con người, khi đó công lý mới được thực thi và đó cũng chính là đặc trưng của một xã hội văn minh.

Bây giờ chúng ta nhìn nhận thêm về hiện trạng xã hội hiện nay.

Trong tình trạng xã hội mà mọi người đều cùng quẫn theo vòng xoáy của tiền bạc (do truyền thông tạo ra tâm lý có tiền là có tất cả), trong đầu người dân chỉ quanh quẩn chữ "tiền", nó khiến cho ngay cả những người được gọi là chuyên gia kinh tế cũng chỉ nhìn nhận mọi vấn đề trong cuộc sống dưới góc độ lợi ích về tài chính, tiền tệ. Hoặc thậm chí họ có khả năng biết được những tổn hại ở các góc độ khác, nhưng để thuyết phục được công chúng với "con mắt chỉ hau háu nhắm đến tiền" thì đó là cách dễ dàng lôi kéo, dẫn dụ được công chúng. Đúng hơn đó là chủ nghĩa dân túy, biết đánh vào cái người ta đang nhắm tới.

Như trên đã bàn về bản chất con người là vì mình như tiền bạc, danh vọng, quyền lực... Nhưng những thứ đó về sâu xa hơn là nhằm có được cuộc sống tự do, hạnh phúc trong đó phải đảm bảo ba yếu tố mà siêu triết gia Aristotle đã nói bao gồm: đời sống vật chất, đời sống tinh thần và đời sống thể chất (hay sức khỏe). Một gia đình tốt là đảm bảo được ba yếu tố này bằng nghệ thuật quản trị gia đình. Tiền bạc chỉ là một trong nhiều phương tiện để mang lại đời sống tinh thần cũng như đời sống vật chất và thể chất của mỗi người, mỗi gia đình. Vì vậy, nghệ thật tích lũy tiền bạc, nghệ thuật làm giàu hay đích đến của nó là tích lũy tài sản cũng chỉ là công cụ phục vụ cho nghệ thuật quản trị gia đình nhằm có được đời sống hạnh phúc, nên nó kém quan trọng hơn nghệ thuật quản trị gia đình. Khi nghệ thuật tích lũy tài sản để có cuộc sống hạnh phúc còn là phương tiện, thì nó có giới hạn. Nhưng rất nhiều người không hiểu thấu được nó, họ cho rằng có tiền là có tất cả và lúc đó họ cũng không còn thấy vai trò quan trọng của nghệ thuật quản trị gia đình. Họ biến tích lũy tài sản thành mục tiêu của đời người. Vì vậy, nó trở thành không giới hạn, đồng thời họ cũng đề cao tiền bạc, và sẵn sàng chà đạp lên các giá trị khác để có tiền bạc.

Ở góc độ lớn hơn là một quốc gia, thì một quốc gia tốt cũng phải đảm bảo mang lại ba yếu tố trên cho người dân của quốc gia đó, để họ có được cuộc sống hạnh phúc. Và cũng tương tự như đối với một cá nhân hay một gia đình, thì nghệ thuật quản trị quốc gia quan trọng hơn mục tiêu giàu có thuần túy của một quốc gia. Vì vậy mà xưa kia chưa có các nhà kinh tế, thì rất nhiều quốc gia đã từng phát triển thịnh vượng, người dân sống văn minh, hạnh phúc. Để có được điều đó, các triết gia vĩ đại nhấn mạnh vào "triết lý trị quốc" hay cai trị (governance), ở đó quyền lực phải được kiểm soát (theo nguyên lý cân bằng, đối trọng, kiểm soát, ràng buộc lẫn nhau - Checks and Balances). Khi đó, không một cá nhân nào, nhóm người nào có khả năng chi phối, nắm trọn quyền lực để áp đặt mong muốn của mình lên toàn bộ các nhóm yếu thế còn lại. Khi đó cũng không có tình trạng tôn sùng cá nhân, mong chờ vào cá nhân lãnh đạo mang lại đời sống hạnh phúc cho mọi công dân, mà sự thịnh vượng của quốc gia phải do sự đóng góp của toàn bộ người dân, cũng như vì công dân của quốc gia đó. Và khi quyền lực luôn bị kiểm soát trong một quốc gia tốt đẹp thì theo triết gia vĩ đại Plato - người thầy khả kính của triết gia Aristotle - đã nói: con người buộc phải sống công bình, chính trực bởi chỉ có cách đó mới mang lại lợi ích cho họ; nếu không hành xử công bình, chính trực thì họ luôn bị trừng phạt (ngay tức khắc chứ không phải chờ vào kiếp sau), làm cho tổn thất phải nhận lớn hơn nhiều so với lợi ích có thể có được khi làm điều xấu xa. Còn với triết gia vĩ đại thời kỳ khai sáng Rousseau – một trong những người được coi là cha đẻ của nền dân chủ hiện đại ngày nay, người cũng được mệnh danh là "người thầy của nhân loại" cũng đã nói về tình trạng một quốc gia rằng: “Hạnh phúc thay những dân tộc ở đó người ta có thể tốt mà không cần cố gắng và công minh chính trực mà không cần đức tính! Nếu có một quốc gia khốn khổ nào trên thế gian ở đó mỗi kẻ không thể sống được nếu không làm điều ác và ở đó các công dân đều gian manh vì bất đắc dĩ, thì cần treo cổ không phải kẻ bất lương, mà kẻ buộc hắn phải trở thành kẻ bất lương.


Vì vậy, với bộ máy nhà nước, nếu muốn đất nước phát triển thịnh vượng, người dân sống văn minh, mọi người đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì nhất thiết phải đảm bảo duy trì được nền tảng pháp quyền mạnh mẽ. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không ai có quyền chà đạp hay "ngồi xổm" lên pháp luật. Nhà nước cần bảo vệ được quyền lợi dưới góc nhìn đa chiều cho mọi công dân, dù là nhóm người yếu thế nhất.

Muốn nhà nước hành động theo phương châm đó, nghĩa là quyền lực được kiểm soát, thì không còn cách nào khác là tất cả mọi người dân đều phải ý thức được trách nhiệm của mình là phải "cất lên tiếng nói" để tránh cho người nắm quyền lực có thể làm sai dẫn đến tổn hại lợi ích của mình hay nhóm người như mình. Xã hội muốn phát triển thịnh vượng thì mọi quyết định không thể dựa vào đa số đám đông biểu quyết. Cần hiểu rằng những người yếu thế, yếu về quyền lực, yếu về tiền bạc và yếu về rất nhiều mặt khác nữa, nhưng đặc biệt quan trọng là yếu về mặt tri thức. Trong khi họ lại chiếm số đông trong xã hội, nếu biểu quyết dựa trên số đông như vậy, các quyết định thường thiếu đi tính chính xác do tính chất độc tài của đám đông. Đám đông khi đó thường bị những kẻ “dân túy” lợi dụng, dẫn dụ nhằm đạt mục đích của kẻ dân túy. Đó cũng chính là nhược điểm của các nền tảng xã hội dân chủ cổ đại xa xưa ở phương Tây mắc phải. Nguyên tắc áp dụng đa số của đám đông chỉ thực hiện trong bối cảnh chiến tranh, loạn lạc mà thôi. Vì vậy, trong một nền cộng hòa thì mọi nhóm người dù là yếu thế nhất cũng cần phải có đại diện của mình, với cam kết đưa ra tiếng nói cho họ và bảo vệ quyền lợi cho họ. Kẻ đại diện nào không thực hiện được nhiệm vụ đó thì phải được thay thế. Vấn đề này dẫn đến vai trò quan trọng của những người có hiểu biết, có phẩm chất để làm đại diện cho mỗi nhóm người trong xã hội. Nghĩa là nó nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của giới "trí thức" (đúng nghĩa), khi có khả năng nhìn nhận được vấn đề thì cần hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của mọi nhóm người khác nhau trong xã hội, nhất là với những người yếu thế, thì trí thức càng cần thiết phải bảo vệ họ, làm người đại diện cho họ, giúp họ "cất lên tiếng nói" của mình, đảm bảo cho mọi góc nhìn khác nhau theo đúng phương châm của từ tự do như đã nói ở trên đều phải được "phơi ra ánh sáng", hay cụ thể hơn đó chính là giúp cho sự thật được phơi bày và công lý được thực thi. Bởi vì sự thật hay chân lý cũng chính là tôn chỉ cho mọi hành động hay mục tiêu tối cao mà người mang danh trí thức cần hướng tới.

Kết lại, bản chất của con người là vì mình, và con người luôn đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình, nhưng cần thiết phải đảm bảo được ba điều kiện gồm tự do, phúc lợi và đạo đức. Trong đó tự do là điều kiện vô cùng quan trọng để mang lại hạnh phúc cho mỗi người (hay mục đích vì mình), đồng thời cũng mang lại hạnh phúc cho toàn xã hội (mọi quan điểm đều được nêu ra và được bảo vệ), như vậy mới tạo ra sự thịnh vượng cho một quốc gia.